Pages

Subscribe:

Thứ Tư, 24 tháng 6, 2015

Giá trị kinh tế của bảng cân đối kế toán

      Chương này định nghĩa giá trị kinh tế (EV) và những lý do nó là một biến mục tiêu của ALM. Về bản chất, giá trị kinh tế là giá trị thực, hiện tại của dòng tiền tài sản và dòng tiền nợ. Giá trị kinh tế xem xét giá trị của quyền chọn ẩn trong tài sản và nợ, trong khi các khe hở không tính tới những yêu tố này. Một tính chất chung của giá trị kinh tế là nó liên hệ rất đơn giản với giá trị hiện tại của toàn bộ thu nhập lãi thực (NII) của ngân hàng cho tới kỳ hạn dài nhất.

     Do đó, giá trị kinh tế phản ánh tính lợi nhuận trong tương lai dài hạn, trong khi NII chỉ phản ánh được một thời gian ngắn hạn một hoặc hai năm. Cả hai cách nhìn về tính lợi nhuận đều cẩn thiết và cả hai biến mục tiêu đều có rủi ro. Ngân hàng nên kiểm soát rủi ro đó. Quan hệ giữa EV và NII tương lai được trình bày bằng cách phân tích những dòng tiền bao gồm tất cả tạo ra từ bảng cần đối kế toán thành dòng tiền vốn và dòng tiền lãi.

giá trị kinh tế (EV)


      Chúng tôi trình bày phép tính giá trị kinh tế trong phần 26.1. Để giá trị kinh tế có những tính chất như trên, chúng ta cần dùng tỷ lệ chiết khâu là lài suất không rủi ro, cho phép đánh giá chênh lệch rủi ro giữa các lãi suất vay và lãi suất tiền ký gửi. Bước tiếp theo là một ví dụ bảng cân đối kế toán đơn giản, tính toán giá trị kinh tế từ các dòng tiền và NII định kỳ từ chênh lệch với lãi suất không rủi ro. Dòng tiền độc lập với các lãi suất hiện hành khi cân nhắc tài sản và nợ lãi suất cố định. Phép tính NII phụ thuộc vào lãi suất khi ta mở rộng khoảng thời gian dài hơn kỳ hạn của tài sản và nợ.

      Quá trình cho phép so sánh giá trị hiện tại của dòng tiền với giá trị hiện tại của NII định kỳ phỏng đoán trong khoảng thời gian dài nhất (chiết khâu cả hai ớ cùng tỷ lệ). Bước cuối cùng tổng quát hóa kết quả bằng cách chọn bất kỳ khoảng thời gian nào và xử lý như trên. Trong cả hai trường hợp, ta thây giá trị kinh tế bằng với giá trị của NII được điều chỉnh cho những thay đổi lãi suất. Phần 26.4 giải thích tại sao tính chất đó thường đúng.

Chương tiếp theo xử lý quản lý rủi ro lãi suất của EV, thay vì thu nhập lãi là biến mục tiêu của ALM. Vì mục đích này, những khe hở kỳ hạn bình quân (duration) thay thế cho khe hờ lãi suất.


Đọc thêm tại : http://timhieukienthucnganhang.blogspot.com/2015/06/ev-va-thu-nhap-lai-du-kien-o-lai-suat.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều: báo cáo tài chính của ngân hàng, thanh khoan

EV và thu nhập lãi dự kiến ở lãi suất không rủi ro

    Để tính giá trị kinh tế, ta sử dụng lãi suất không rủi ro 5%. Mở rộng các phép tính, công thức là:
Giá trị hiện tại (tài sản) = 80/(1 + 5%) + 80/(1 + 5%)2 +1080/(1 + 5%)3 = 1081,7
Giá trị hiện tại (nợ) = 60/(1 + 5%) + 60/(1 + 5%)2 +1060/(1 + 5%)3 = 1027,2

     Giá trị kinh tế là hiệu giá trị dự kiên của tài sản và nợ:
EV = Giá trị dự kiến (tài sán) – Giá trị dự kiên (nợ) = 54,5
     Vì ta sử dụng lãi suất không rủi ro, giá trị kinh tế của khoản nợ cao hơn giá trị danh nghĩa vì nó có chi phí cao hơn lãi suất không rủi ro. Giá trị tài sản cũng cao hơn giá trị danh nghĩa VJ lý do đó. Ta tính giá trị hiện tại của thu nhập lãi tương lai ở lãi suất thị trường hiện hành 5%:
20/(1 + 5%) + 20/(1 + 5%)2 +20/(1 + 5%)3 = 54,5

       Hai phép tính trên đưa ra kết quả giống nhau cho thây EV từ dòng tiền đúng bằng giá trị hiện tại của thu nhập lãi ở cùng lãi suất:
EV = giá trị hiện tại của Nil =* 54,5

lãi suất


        Bây giờ ta có thể thay đổi tỷ lệ chiết khấu, lây một trường hợp bất thường là lãi suất không rủi ro tăng vọt lên 15% – ta có EV âm. Dòng tiền của tài sản không thay đổi. Khoản nợ, khi gia hạn ở lãi suất mới có chi phí cao hơn nhiều, 15% + 1% = 16%. Bảng 26.4 cho thây dòng tiền và NIL Bảng 26.5 giá trị hiện tại của cả hai dòng tiền và NII ở lãi suất không rủi ro 15%. Ta thây cả hai giá trị hiện tại đều bằng -95,7. Giá trị hiện tại của tài sản và nợ hiện nay thấp hơn giá trị danh nghĩa vì ta chiết khâu ở tỷ lệ cao hơn tỷ lệ ban đầu.
Ta có thể hiểu tại sao giá trị kinh tế là số âm. Điều này là vì EV chiết khấu những giá trị Nn âm, bắt nguồn từ rủi ro lệch hạn cộng với lãi suất ngắn hạn tăng cao.

     Chú ý sự thay đổi của EV xuất phát từ những thay đổi khác nhau của giá trị tài sản và giá trị nợ khi ta thay đổi tỷ lệ chiết khâu. Những thay đổi này khác nhau vì chúng không có cùng độ nhạy với sự thay đổi lãi suất. Để kiểm soát rủi ro của giá trị kinh tế, ta cần phải điều chỉnh độ nhạy với lãi suất. Đây là mục đích của chương tiếp theo. Lựa chọn tỷ lệ chiết khâu bằng với lãi suất rủi ro cho phép đánh giá chênh lệch giữa lãi suất khách hàng và lãi suất thị trường, sẽ xuất hiện trong NII của ngân hàng.



Đọc thêm tại:

Giá trị kinh tế và thu nhập lãi thực

Giá trị kinh tế và thu nhập lãi thực cho một ngân hàng không có vốn
       EV là thước đo kinh tế của hoạt dộng. Nếu giá trị tài sản cao hơn giá trị danh nghĩa, điều đó có nghĩa là thu nhập của chúng cao hơn lãi suất thị trường. Đây là một tình huống thông thường nêu các khoán vay có chênh lệch dương với lãi suất thị trường.       Nếu ngân hàng trả liên ký gứi kỳ hạn thấp hơn lãi suất thị trường, những khoản tiền ký quỹ đó có chi phí thấp hơn 13 lãi suất thị trường. Giá trị thị trường thấp hơn giá trị danh nghĩa. Điểu này tạo ra EV dương, vì tài sán cao hơn giá trị danh nghĩa và nợ thấp hơn giá trị danh nghĩa. Theo đó, E V tăng khi chênh lệch tín dụng tăng giữa lãi suất khách hàng và lãi suất thị trường, và NII cũng cải thiện. Chúng ta sẽ nghiên cứu quan hệ giữa giá trị kinh tế và NII thông qua một ví dụ.

Giá trị kinh tế


Bảng cân đối kế toán mẫu
       Lãi suất không rủi ro thị trường hiện tại là 5%. Nguồn vốn của ngân hàng là một khoản nợ một năm ờ lãi suất hiện tại 6% với chênh lệch 100 điểm cơ sở so với lãi suất không rủi ro 5%. Lãi suất này được cố định cho một kỳ và được đặt lại sau đó. Tài sản có kỳ hạn dài hơn nợ. Nó là một khoản vay trả một lần, kỳ hạn 3 năm với lãi suất cố định hợp đồng là 8%. Ngân hàng tính phí khách hàng lãi suất thị trường hiện tại cộng với chênh lệch 3% và trả chênh lệch 1% cao hơn lãi suất không rủi ro. Chú ý chúng ta bao gồm một chênh lệch tín dụng cho nguồn vốn ngân hàng, giả định là ngân hàng chỉ có khoản nợ tài chính và không có tiền ký gửi. Để đơn giản hóa, ta dùng một đường lãi suất phẳng. Thu nhập lãi thực không bị ảnh hưởng bởi những thay đổi lãi suất chỉ trong năm đầu tiên vì lãi suất nọ sẽ được định lại sau một năm. Bảng cân đối kế toán được tóm tắt trong bảng 26.1. Cổ phần ngân hàng là 0. Giả định này sẽ được nới lỏng ở phần sau.
Dòng tiền từ tài sản và nợ được cố định từ những dữ liệu này

      Dòng tiền không giống như NII. Sự chênh lệch là trả nợ gốc. Ví dụ, hết năm 1, hai dòng tiền xảy ra: doanh thu lãi 80 từ tài sản và ngân hàng trả nợ gốc và lãi 1060. Thu nhập lãi thực chi phụ thuộc vào doanh thu và chi phí lãi bằng 80 – 60 = 20. Cho những năm tiếp theo, dự đoán NII đòi hỏi các giả định, vì khoản nợ sẽ được định lại cho năm thứ hai và ba. NII trong khoảng thời gian hơn một năm phù thuộc vào chi phí nợ, có thể thay đổi sau năm đầu tiên.
     Tổng khoảng then gian là kỳ hạn dài nhất, 3 năm. Để phỏng đoán Nợ quá một năm, ta cần gia hạn lại khoản nợ ở lãi suất thị trường hiện hành vào thời điểm gia hạn và dự đoán những thay đổi của NII với lãi suất. Dòng tiền hợp đồng của tài sản không thay đổi. Khoản nợ cần được gia hạn lại cho tới kỳ hạn dài nhất, với lãi suất hiện hành từ thời điểm 2 tới thời điểm 3. Giữ lãi suất không rủi ro 5% sau năm đẩu tiên, NII được dự đoán sử dụng lãi suất 5%. Bảng 26.3 cho thây dòng tiền và NII trong 3 năm.


Đọc thêm tại : http://timhieukienthucnganhang.blogspot.com/2015/06/ev-va-gia-tri-thi-truong-cua-co-phan.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều: dong tien, thanh khoản

EV và giá trị thị trường của cổ phần

     EV và giá trị thị trường của cổ phần không hoàn toàn giống nhau. EV có thể là số âm trong khi giá trị cổ phần luôn là số dương. Hơn nữa, cổ phần không phải là một khoản nợ thu nhập cố định. Vì những nhà đầu tư cổ phần chịu mọi rủi ro của ngân hàng, tỷ lệ thu nhập yêu cầu nên cao hơn chi phí khoản nợ.

      Do đó, sẽ không họp lý nêu coi nhà đầu tư cố phần là một “người cho vay thuần túy”, người sẽ giữ các khoản vay của ngân hàng và bán khoản nợ ngân hàng. Giá trị thị trường của cổ phần là giá trị chiết khâu của các dòng tiền bù cho cổ phần, với lãi suất điều chinh theo rủi ro bằng với thu nhập cổ phần yêu cầu khi rủi ro cổ phần được tính bằng |3 của cổ phiếu ngân hàng. EV là một hiệu và có thể là số âm trong khi giá cổ phiếu không thể là số âm.

       Cần xem xét nhiều tỷ lệ chiết khâu. Giá trị công bằng nên sử dụng lãi suất thị trường điều chỉnh theo rủi ro bao gồm chênh lệch tín dụng ứng với điểm tín dụng của người đi vay. Chi phí cấp vốn của ngân hàng cũng hợp lý vì bất kỳ chênh lệch nào của tài sản vượt trên chi phí cấp vốn này sẽ thành một chênh lệch vượt mức. Chi phí cấp vốn của ngân hàng là bình quân gia quyền của tất cả các nguồn vốn, cổ phần và nợ hay chi phí vốn bình quân gia quyền (Wacc) của ngân hàng.

giá trị kinh tế


       Chúng tôi sẽ trình bày lãi suất không rủi ro và dòng tiền chiết khấu (DCF) làm rõ những đặc tính nổi bật của EV như thế nào.EV là một biến mục tiêu của ALM vì nó đo lường giá trị hiện tại của tất cả các thu nhập lãi thực trong tất cả các khoảng thời gian tương lai. Khi tập trung vào khoảng thời gian ngăn hạn, ví dụ 2 năm, mục tiêu tự nhiên của ALM là NII và mô hình khe hở vẫn thích hợp, trừ với quyền chọn. Nhưng khi tập trung vào dài hạn, EV thích hợp hơn và cần phải có những thước đo rủi ro cho biên mục tiêu mới này.

     Trong phần này, ta sẽ khảo sát những cách nhìn khác nhau về EV. Giá trị hiện tại của các dòng tiền tương lai F, là:
      Lãi suất thị trường là lãi suất không trái tức không rủi ro rt rút ra từ biểu đồ lợi nhuận. Công thức sẽ tính ra giá trị của bất kỳ tài sản nào tạo ra dòng tiền hợp đổng. EV là giá trị thực của một danh mục đầu tư giữ tài sản và bán nợ. Nó có thể là số âm hoặc dương. Sự thay đổi của EV phụ thuộc hoàn toàn vào độ nhạy của hai danh mục đầu tư này. Chương tiếp theo sẽ thảo luận phản ứng của EV khi lãi suất thị trường thay đổi.


Đọc thêm tại : http://timhieukienthucnganhang.blogspot.com/2015/06/quan-he-giua-ev-va-nii.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều: dòng tiền, tính thanh khoản

Quan hệ giữa EV và NII

      Chương này định nghĩa giá trị kinh tế (EV) và những lý do nó là một biến mục tiêu của ALM. Về bản chất, giá trị kinh tế là giá trị thực, hiện tại của dòng tiền tài sản và dòng tiền nợ. Giá trị kinh tế xem xét giá trị của quyền chọn ẩn trong tài sản và nợ, trong khi các khe hở không tính tới những yêu tố này. Một tính chất chung của giá trị kinh tế là nó liên hệ rất đơn giản với giá trị hiện tại của toàn bộ thu nhập lãi thực (NII) của ngân hàng cho tới kỳ hạn dài nhất.

     Do đó, giá trị kinh tế phản ánh tính lợi nhuận trong tương lai dài hạn, trong khi NII chỉ phản ánh được một thời gian ngắn hạn một hoặc hai năm. Cả hai cách nhìn về tính lợi nhuận đều cẩn thiết và cả hai biến mục tiêu đều có rủi ro. Ngân hàng nên kiểm soát rủi ro đó. Quan hệ giữa EV và NII tương lai được trình bày bằng cách phân tích những dòng tiền bao gồm tất cả tạo ra từ bảng cần đối kế toán thành dòng tiền vốn và dòng tiền lãi.

giá trị kinh tế (EV)


      Chúng tôi trình bày phép tính giá trị kinh tế trong phần 26.1. Để giá trị kinh tế có những tính chất như trên, chúng ta cần dùng tỷ lệ chiết khâu là lài suất không rủi ro, cho phép đánh giá chênh lệch rủi ro giữa các lãi suất vay và lãi suất tiền ký gửi. Bước tiếp theo là một ví dụ bảng cân đối kế toán đơn giản, tính toán giá trị kinh tế từ các dòng tiền và NII định kỳ từ chênh lệch với lãi suất không rủi ro. Dòng tiền độc lập với các lãi suất hiện hành khi cân nhắc tài sản và nợ lãi suất cố định. Phép tính NII phụ thuộc vào lãi suất khi ta mở rộng khoảng thời gian dài hơn kỳ hạn của tài sản và nợ.

      Quá trình cho phép so sánh giá trị hiện tại của dòng tiền với giá trị hiện tại của NII định kỳ phỏng đoán trong khoảng thời gian dài nhất (chiết khâu cả hai ớ cùng tỷ lệ). Bước cuối cùng tổng quát hóa kết quả bằng cách chọn bất kỳ khoảng thời gian nào và xử lý như trên. Trong cả hai trường hợp, ta thây giá trị kinh tế bằng với giá trị của NII được điều chỉnh cho những thay đổi lãi suất. Phần 26.4 giải thích tại sao tính chất đó thường đúng.

Chương tiếp theo xử lý quản lý rủi ro lãi suất của EV, thay vì thu nhập lãi là biến mục tiêu của ALM. Vì mục đích này, những khe hở kỳ hạn bình quân (duration) thay thế cho khe hờ lãi suất.


Đọc thêm tại : http://timhieukienthucnganhang.blogspot.com/2015/06/chenh-lech-ieu-chinh-theo-quyen-chon.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều: báo cáo tài chính của ngân hàng, thanh khoan