Pages

Subscribe:

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2015

Chi phí của khoản nợ “phản chiếu”

      Chi phí của khoản nợ “phản chiếu” là lợi nhuận của nó. Với một khoản vay lãi suất cố định, khoản nợ sao chép có thể được phân tách thành một vài khoản nợ không trái tức với lượng và kỳ hạn ứng với hổ sơ thời gian của khoản nợ trả dân.

       Lợi nhuận có thể được biểu diễn bằng một hàm của các lãi suất không trái tức. Trong ví dụ trên, có hai ‘lớp’ nợ: 60 trong hai năm và 40 cho một năm. Lãi suất cần thiết là những lãi suất giao ngay cho những kỳ hạn đó. Tuy nhiên, chi nên có một giá chuyển khoản duy nhất với một khoản vay. Đó là chi phí vốn trung bình của hai khoản nợ. Định nghĩa chính xác là tỷ lệ chiết khấu làm cho giá trị hiện tại cả những dòng tiền tương lai tạo ra từ hai khoản nợ đúng bằng khoản tiền được mượn.

Chi phí


      Dòng tiền ra tương lai là thanh toán vốn và lãi. Dòng tiền vấn tích lũy dòng tiền với lãi suất một năm và hai năm. Nếu các khoản nợ không có trái tức, việc trả lãi xảy ra vào ngày đáo hạn. Dòng tiền là 40(1 + r1 )trong một năm và 60(1 + r2) trong hai năm. Lợi nhuận y từ việc cấp vốn tổng hợp này là tỷ lệ chiết khấu y sao cho tỷ lệ chiết khấu sẽ nằm giữa hai lãi suất thị trường. Một nghiệm xấp xỉ sử dụng phép xấp xỉ tuyên tánh y là bình quân gia quyền của các lãi suất giao ngay cho 1 và 2 năm, sử dụng các trọng số kê! hợp kích cỡ của mỗi hoàn nợ và kỳ hạn của nó. Với lãi suất r, =8% và r2 =9%, r = 8,75%. Lãi suất gần với 9% hơn vì khoản nợ hai năm có lượng lớn hơn và kỳ hạn dài hơn.
Trong thực tế, nêu đã biết sơ thời gian các khoản vay và lãi suất thị trường hiện tại, bảng giá chuyển khoản cho biết lợi nhuận của khoản nợ ‘sao chép’, kết hợp các lãi suất thị trường.

Lợi ích từ khoản nợ phản chiếu

    Sử dụng chi phí vốn của một khoản nợ hoàn toàn sao chép tài sản tạo ra nhiều lợi ích kinh tế. Việc khớp hoàn toàn dẫn tới:
• Biên của tài sản miễn dịch với những thay đổi lãi suất
• Không cẩn các quy tắc để ân định nguồn tiền có sẵn với việc sử dụng vốn
• Không cần chuyển giao thu nhập tạo ra bằng cách thu thập nguồn tiền vào thu nhập từ hoạt động cho mượn
• Tính toán các giá chuyển khoản rất đơn giản

    Sử dụng lợi nhuận của cấp vốn danh nghĩa sao chép khoản vay làm giá chuyển khoản hoàn toàn đáp ứng những yêu cầu về sự thống nhất.
     Khoản nợ sao chép được xác định cho một khoản vay có thời gian biểu kỳ hạn. Tuy nhiên, những kỳ hạn hợp đồng không phải là kỳ hạn thực, vì những lý do ví dụ như trả trước khoản vay thế chấp. Trong những trường hợp đó, ta phải bổ sung chi phí quyền chọn trong việc định giá, cộng chênh lệch điều chinh theo quyền chọn trong chi phí vốn bao gồm tất cả. Việc cấp vốn sao chép hổ sơ thời gian của phần đã rút sử dụng lãi suất thả nổi và ngày đặt lại ứng với chỉ số tham chiếu dùng cho hạn mức tín dụng. Tuy nhiên, các vân đề của hạn mức không có kỳ hạn còn quan trọng hơn đối với tiền ký gửi.
      Đơn vị ALM không nhất thiết phải dùng chính sách cấp vốn thực sự miễn dịch biên lãi của ngân hàng. Khoản nợ sao chép các đặc điểm của tài sản là một “khoản nợ danh nghĩa”. Chính sách ALM thường không hoàn toàn giống với việc khớp các dòng tiền hoàn hảo, vì nó muốn có một vị thế mở, ví dụ do sự tổn tại của những khoản tiền ký gửi không đòi hỏi tăng nợ tài chính trong thị trường.






Từ khóa tìm kiếm nhiều: bao cao tai chinh ngan hang, thanh khoản

Cấp vốn “danh nghĩa” cho các khoản vay

       Giải pháp cấp vốn duy nhất làm trung hòa cả rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất của một tài sản cụ thể là các cấp vốn “phản chiếu” hồ sơ thời gian của các dòng tiền và lãi suất. Với một khoản vay kỳ hạn lãi suất cố định, cấp vốn nên sao chép chính xác hổ sơ khấu hao và mang một lãi suất cố định.

     Cấp vốn như vậy gọi là “danh nghĩa” thay vì có thực. Nó không phụ thuộc vào những nguồn tiền hiện tại. Nó không đòi hỏi ALM phải khớp dòng tiền hoàn toàn. Nó dùng làm một tiêu chuẩn để xác định chi phí của vốn hỗ trợ cho một tài sản bất kỳ.

       Trong một số trường hợp, sự sao chép là rõ ràng và chi phí vốn được xác định dê dàng. Một khoản nợ trả một lần khớp với một khoản vay trả một lần. Lãi suất quan trọng là lãi suất thị trường ứng với kỳ hạn của giao dịch. Nói chung, cấp vốn “danh nghĩa” khác. Với một khoản vay trả dần, số nợ dư thay đổi theo thòi gian cho tới ngày đáo hạn. Sử dụng lãi suất thị trường của kỳ hạn này có nghĩa là ta cấp vốn cho một khoản vay trả dần với một khoản nợ trả một lần, điều này sẽ không nhất quán, vốn sao chép hồ sơ thời gian của khoản vay là một khoản nợ trả dần với thời gian biểu trả nợ giống như khoản vay.

Cấp vốn


        Giá chuyển khoản là chi phí của khoản nợ như vậy. Nó là sự kết hợp các khoản nọ ở những kỳ hạn khác nhau. Trong ví dụ dưới đây, khoản vay 100 trả dần trong 2 năm, trả lại vốn là 40 và 60 cho hai năm. Hình 29.2 minh họa hổ sơ của khoản nợ tham chiếu. Giải pháp cấp vốn kết hợp hai khoản nợ trả một lần, kỳ hạn 1 và 2 năm ký hợp đồng ờ lãi suất thị trường.

      Giải pháp cho lãi suất thả nổi đơn giản hơn với lãi suất cố định. Với những giao dịch lãi suất thả nổi, vốn sao chép là một khoản nợ lãi suất thả nổi với ngày định lại lãi suất trùng với ngày của tài sản. Hổ sơ trả dần sẽ hoàn toàn giống như của tài sản lãi suất thả nổi.



Đọc thêm tại:

Chi phí của những nguồn tiền hiện tại


       Giá chuyển khoản dựa trên định nghĩa các nguồn vốn hỗ trợ các tài sản. Một cách nhìn là những tài sản và nguồn tiền hiện tại. Giả định cơ sở là những nguồn tiền hiện có đúng bằng tài sản.

       Cách nhìn thứ hai bao gồm xác lập một giải pháp cấp vốn tham chiếu phản ánh chính xác những tài sản được cấp vốn, và sử dụng chi phí của giải pháp này làm giá chuyển khoản.

Chi phí của những nguồn tiền hiện tại

        Sử dụng những nguồn tiền hiện tại có vẻ hợp lý. Những nguồn tiền này cấp vốn cho các tài sản nên chi phí của chúng đáng quan tâm. Tuy nhiên, giải pháp này gây ra một số vấn đề khái niệm. Có nhiều loại tài sản và nợ với những đặc điểm khác nhau. Mỗi loại nguồn tiền có một chi phí khác nhau. Do đó, ta có thể dùng Wacc (chi phí vốn bình quân gia quyền) – chi phí trung bình của nguồn tiền. Một giải pháp khác là khớp các tài sản và nguồn tiền dựa trên những đặc tính giông nhau. Ví dụ, ta có thể ứng những nguồn tiền dài hạn với tài sản dài hạn.

nguồn tiền


        Đây là lý do chi các nguồn vốn tùy theo kỳ hạn. Nguyên tắc này cũng đặt ra một số vân đề. Vì lượng tài sản và nguồn tiền của mộc hạng mục (ví dụ các khoản dài hạn) thường khác nhau, việc khớp không thể chính xác. Nếu tài sản dài hạn có lượng lớn hơn nguồn tiền dài hạn, những nguồn tiền khác phải bù cho thiêu hụt đó. Phải có những nguyên tắc để xác định những nguồn tiền nào sẽ bù cho chênh lệch đó và chi phí vốn sẽ phụ thuộc vào những quy ước đó.
       Hơn nữa, sử dụng chi phí của nguồn tiền hiện tại có thể “không công bằng” với những nguồn tiền thu được từ khách hàng. Một nguồn tiền rẻ, ví dụ như tiền ký gửi, hỗ trợ cho tính lợi nhuận của tài sản. ứng một khoản nợ dài hạn với tiền ký gửi yêu cầu có thể chấp nhận được nếu xét về kỳ hạn. Tuy nhiên, kết hợp như vậy thật ra chuyển giao chi phí thấp của tiền ký gửi sang biên phân bố cho các khoản vay. Tuy nhiên, nó còn giả định ngầm là những tiền ký gửi mới sẽ cấp vốn cho những khoản vay mới, đây là điều không thực tế.

       Vì những sự thiêu thống nhất và giả định thiêu thực tế đó, ứng tài sàn với nguồn tiền hiện tại không hợp lý về kinh tế. Giá chuyển giao cần những tiêu chuẩn khác.



Đọc thêm tại : http://timhieukienthucnganhang.blogspot.com/2015/07/nhung-van-e-can-xu-ly-cua-gia-chuyen.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều: báo cáo tài chính ngân hàng, tính thanh khoản

Những vấn đề cần xử lý của giá chuyển khoản

     Nếu các đơn vị kinh doanh mua nguồn tiền ở giá thấp hơn thị trường, họ có thể làm giảm giá cho vay với khách hàng hoặc các đơn vị mua bán có thể giữ những danh mục đầu tư của những tài sản ở giá thấp hơn thị trường.

    Nếu ngân quỹ hay ALM đánh phí các đơn vị thương mại cao hơn lãi suất thị trường, nó sẽ khuyên khích việc đi vay từ thị trường và tạo ra những chướng ngại cho phát triển. Với danh mục đầu tư ngân hàng, vấn đề để xác định tham chiêu kinh tế là tìm ra chính xác chi phí cho vay và doanh thu từ thu thập tiền ký gửi. Với các hoạt động thị trường, vân đề là sử dụng một giá vốn phù hợp với thị trường để tránh ac-bít nội bộ của các đơn vị kinh doanh.

giá chuyển khoản


Giá chuyển khoản phải xử lý hai vấn đề:
• Chi phí chuyên tiền từ những đơn vị dư thừa sang những đơn vị thiêu hụt vốn nền là bao nhiêu
• Với danh mục đầu tư cho vay, chi phí tiêu chuẩn để cấp là gì để định giá?

       Trong trường hợp đầu tiên, giá chuyển khoản nên trung hòa, không phạt hay trợ cấp các đơn vị kinh doanh. Giá chuyển khoản kinh tế dùng để chuyển tiền và phân bố thu nhập. Nó cũng dùng để tìm ra việc định giá sai, là chênh lệch giữa giá thực và giá mục tiêu dựa trên rủi ro, để báo cáo và sửa sai.

      Trong thực tế có một vài quan niệm định giá, kết hợp những tiêu chí kinh tế và thương mại. Có thể phân biệt chúng trước khi gộp lại trong một khung thống nhất:

• Định giá dựa trên rủi ro là tiêu chuẩn và thuần túy mang tính kinh tế. Nó đòi hỏi hai thành phần cơ bản: chi phí vốn và mark-up (giá bổ sung). Mark-up với rủi ro tín dụng nên phân biệt lãi suất dành cho người đi vay. Nó dựa trên hê thông phân phối rủi ro tín dụng, phân bố chi phí vốn cho mỗi giao dịch, dựa trên những quy định và mô hình kinh tế về vốn kinh tế tín dụng. Chúng sẽ coi như sự phân phối vốn đó là có sẵn và chi tập trung vào chi phí kinh tế của vốn.

• Định giá thương mại nói tới mark-up và mark-down so với tiêu chuẩn kinh tế đơn thuần vì các mục đích chính sách kinh doanh, tạo ra động lực và hình phạt đế quảng bá một số sản phẩm. Những mark-up và mark-down đó hoàn toàn bị chi phối bởi kinh doanh thay vì mục tiêu lợi nhuận.

      Giá chuyển giao dùng để làm cơ sở cho trao đổi vốn nội bộ và xác định chi phí vốn “bao gồm tất cả”. Chi phí đó nên bao gồm chi phí hoạt động đế giá trị đóng góp đủ cao để hấp thụ chi phí hoạt động. Các giá dựa trên rủi ro cũng phải được cộng chi phí rủi ro khi cho vay. Để phân biệt chi phí bao gồm tất cả của vốn và giá chuyển khoản dùng để trao đổi tiền giữa các đơn vị, chúng ta gọi khái niệm thứ hai là “giá chuyển khoản thuần túy”. Chi phí vốn bao gồm tất cả dùng cho mục đích định giá, không phải để trao đổi vốn nội bộ.


Đọc thêm tại : http://timhieukienthucnganhang.blogspot.com/2015/07/chenh-lech-thuong-mai-va-chenh-lech-ky.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều: phương pháp định giá, thanh khoan

Chênh lệch thương mại và chênh lệch kỳ hạn

       Giá chuyển khoản là lãi suất tham chiếu nội bộ dùng để chuyển giao vốn nội bộ và phân bố thu nhập. Chúng cũng dùng để đặt ra những tiêu chuẩn định giá. FTP nên đưa ra những tiêu chuẩn kinh tế cho chi phí cấp vốn thông qua markup và markdown (giá bổ sung lên/xuống) để đạt được tính lợi nhuận mục tiêu của ngân hàng. Vì các ngân hàng không muôn chênh lệch thương mại tăng hoặc giảm với lãi suất, hệ thống FTP phải chuyển giao rủi ro lãi suất và rủi ro thanh khoản cho đơn vị trung ương ALM, chịu trách nhiệm quản lý rủi ro.

        Phần 29.1 sẽ cho thấy giá chuyển giao đúng phải dựa hên thị trường để tránh ac-bit nội bộ của các đơn vị kinh doanh và ac-bit bên ngoài bởi người đi vay. Có sự khác biệt giữa “giá chuyên khoản thuần túy” có mục đích duy nhất là chuyển tiền giữa các đơn vị với chi phí vốn “bao gồm tất cả”, bao gồm chi phí hoạt động cộng với markup cho chi phí rủi ro, có mục đích xác lập giá cho khách hàng dựa trên rủi ro. Phần 29.2 định ra những tiêu chuẩn kinh tế cho giá chuyển giao cho các hoạt động cho vay. Phần 29.3 nói về vấn đề đó với các đơn vị thu nhận tiền. Phần 29.4 làm rõ các điều kiện đảm bảo chuyển giao hiệu quà rủi ro lãi suất cho đơn vị ALM. Phần 29.5 nói về định giá dựa trên rủi ro với cho vay.

Chênh lệch thương mại


CHÊNH LỆCH THƯƠNG MẠI VÀ CHÊNH LỆCH KỲ HẠN

        Nguyên tắc cơ bản để xác định những giá chuyển giao “kinh tê”’ là liên hệ với giá thị trường vì cơ hội ac-bit giữa lãi suất ngân hàng và lãi suất thị trường nảy sinh khi chênh lệch tổn tại. Các tiêu chuẩn kinh tế xuất phát từ giá thị trường. Mark-up hay mark-down so với các tiêu chuẩn sẽ phục vụ cho việc định giá trong tương quan với tính lợi nhuận mục tiêu của ngân hàng. Trong phần này và những phần sau, chúng ta bỏ qua mark-up và mark-down thương mại và đoạn cuối cùng trong chương này sẽ thảo luận có thể làm gì với những mark-up và mark-down “thương mại thuần túy” đó. Chúng độc lập với mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng.

       Chênh lệch giữa giá khách hàng của ngân hàng với lãi suất thị trường sẽ tạo ra ac-bit của khách hàng và các đơn vị kinh doanh. Để đảm bảo ngân hàng có biên là số dương bất kể ở lãi suất nào, cần phải liên hệ giá chuyển khoản với kỳ hạn vì câu trúc kỳ hạn của lãi suất thông thường không phẳng. Trường hợp giao dịch trả một lần là dễ phân tích nhất. Giá khoản vay trả một lẩn nên cao hơn lãi suất thị trường của cùng kỳ hạn đó. Lãi suất tiền ký gửi kỳ hạn nên thấp hơn lãi suất thị trường của cùng kỳ hạn. Lãi suất tiền ký gửi yêu cầu nên thấp hơn lãi suất ngắn hạn. Khi cho vay cao hơn lãi suất thị trường, ngân hàng có thể mượn tiền từ thị trường và có chênh lệch dương bất kể kỳ hạn là gì. Khi thu nhận nguồn tiền dưới lãi suất thị trường, ngân hàng có thể đầu tư chúng vào thị trường và có lãi. Hình 29.1 mình họa cho kế hạch định giá đơn giản này, áp dụng cho mọi khoản vay trả một lần và tiền ký gửi.


Đọc thêm tại : http://timhieukienthucnganhang.blogspot.com/2015/06/chia-nho-bien-thanh-nhung-ong-gop-cua.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều: tài sản tài chính, thanh khoản